0972357147

Bán trang web

1 triệu vnđ

thuocdieutriyeusinhly.wevina.vn

suythan.wevina.vn

tranthachcaovinhtuong.wevina.vn

http://suabim.wevina.vn/

1 trang web

1 triệu vnđ

>0972357147

Giới thiệu

Bán trang web 1 triệu vnđ 0972357147

Dấu hiệu của bệnh thận

hận là một trong những căn bệnh gây ra nhiều biến chứng phụ rất cao, do đó phải tìm ra dấu hiệu của bệnh càng sớm càng tốt trước khi quá muộn. Đau thận gây đau vùng hông, lưng, sát gần xương sườn, có thể gây sốt. Ngoài ra, sự thay đổi màu của nước tiểu cũng do bệnh tại thận.

Thận có chức năng lọc máu để thải chất độc tạo ra nước tiểu và tạo ra những nội tiết tố để điều hòa lượng nước tiểu và các ảnh hưởng đến huyết áp. Nước tiểu từ thận tạo ra rẽ theo hai ống dẫn là niệu quản, rồi chảy xuống bàng quang. Nước tiểu đọng lại đó vài tiếng đồng hồ rồi được đưa ra ngoài theo ống niệu đạo. Đối với nam giới, qua đường ống niệu đạo để ra ngoài còn có tinh dịch bao gồm tinh trùng do tinh hoàn sản xuất ra và các dịch của tuyến tiền liệt và túi tinh.

Các dấu hiệu của bệnh

Thông thường các bệnh nhân thường có dấu hiệu đau lưng liền kết luận bị sỏi thận. Tuy nhiên có 98% đau lưng không phải là do bệnh thận mà lại là do bệnh từ cTột sống, lưng, thần kinh hoặc bệnh đau toàn thân. Các bệnh nhân bệnh cúm ngoài đau khắp mình thì vùng lưng đau dữ dội hơn. 2% đau lưng do bệnh thận thì chỉ có hơn 1% là do sỏi thận gây ra, còn lại là do viêm thận, bướu thận.

* Đau thận gây đau vùng hông lưng, sát gần xương sườn có thể kèm theo sốt.

* Đau sỏi thận, sỏi niệu quản gây ra những cơn đau dữ dội, đau từ sau lưng chạy xuống bộ phận sinh dục.

Các triệu chứng của đau lưng:

* Khi bệnh nhân đau ê ẩm, đau xuống chân thì là do đau thần kinh tọa, đau cột sống.

* Đau lưng sát gần xương chậu, đau nhói khi đứng dậy hay khiêng vác đồ nặng, cơn đau có thể lan xuống mông hoặc chân bên, đó cũng là do đau thần kinh tọa.

* Đau lưng do rễ thần kinh cũng thường tăng lên sau khi đi xe đạp hoặc xe máy trên một đoạn đường dài và xóc.

* Đau lưng bình thường do mệt mỏi xuất hiện sau một ngày làm việc mệt nhọc, công việc ngồi một chỗ, ít hoạt động, cảm giác ê ẩm lưng và toàn thân. Để hiểu rõ nguyên nhân của đau lưng, bác sĩ sẽ có những kiểm tra, khám nghiệm thận và cột sống của bệnh nhân. Nếu cần thiết có thể sẽ tiến hành thêm các khám nghiệm khác như siêu âm, chụp X-Quang, thử nước tiểu...

Xem nước tiểu đoán bệnh

Sự thay đổi mầu sắc và độ trong của nước tiểu có thể do ăn uống hoặc do một loại thuốc nào đó gây màu nước tiểu bị thay đổi. Một nguyên nhân khác là do bệnh tại thận vì đây là nơi sản xuất ra nước tiểu, hoặc tại bàng quang - ở nơi chứa nước tiểu. Màu nước tiểu bình thường có màu vàng từ nhạt tới hơi sẫm. Độ vàng tuỳ thuộc vào nồng độ chất mochorome trong nước tiểu. Đây là một chất thoái hóa của hemoglobin. Nếu cơ thể có ít nước cung cấp vào hoặc lao động nhiều mà không uống đủ nước thì nước tiểu có màu vàng sẫm. Có khi màu nước tiểu lại chỉ hơi đục đục, nhất là khi đi tiểu vào buổi sáng. Các hiện tượng này chứng tỏ rằng nước tiểu bị kềm hóa nhẹ nên các tinh thể nhất phát dễ đọng lại. Uống nhiều nước hoặc uống bổ sung 2 viên Chdoramonic vào buổi tối để nước tiểu trong lại. Màu nước tiểu còn có thể bị vẩn đục do nước tiểu có máu. Tốt nhất nên đi khám bác sỹ chuyên khoa, xét nghiệm nước tiểu, cấy nước tiểu, cấy dịch niệu đạo tìm vi trùng, làm siêu âm, chụp Xquang... để tìm ra nguyên nhân gây nên các triệu chứng trên. Sau khi tìm ra các nguyên nhân để từ đó có cách điều trị khác nhau và hiệu quả. Nếu có triệu chứng tiểu buốt, tiểu lắt nhắt, tiểu són là những triệu chứng của bệnh tại bàng quang hay niệu đạo chứ không phải của bệnh do thận. Nguyên nhân thường gặp nhất là viêm bàng quang ở phụ nữ và trẻ em, còn đối với nam giới là viêm niệu đạo, bướu tuyến tiền liệt, nhất là đối với bệnh nhân trên 50 tuổi.

Ảnh hưởng đến sinh lý?

Đôi khi người ta lầm tưởng rằng yếu sinh lý hoặc có bất kỳ những trục trặc nào trong chuyện tình dục đều là do suy thận. Tuy nhiên, thực tế không phải như vậy mà là do mạch máu đến bộ phận sinh dục bị hẹp tắc do thần kinh điều khiển tại chỗ hoặc trên não bị trục trặc. Chính vì vậy mà chẩn đoán và điều trị yếu sinh lý là một vấn đề tế nhị và phức tạp. Yếu sinh lý gồm các nhóm bệnh sau: rối loạn ham muốn (mất hoặc giảm ham muốn), rối loạn cương, rối loạn xuất tinh (có thể là xuất tinh sớm hoặc không xuất tinh), rối loạn cảm giác (không có khoái cảm hoặc bị đau khi lên đến đỉnh điểm), khả năng thụ thai thấp. Mỗi một nhóm bệnh lại được thành những nhóm nhỏ hơn, tương ứng với những bệnh khác nhau, mỗi bệnh có cách điều trị riêng. Các bệnh do suy thận cũng sẽ được chẩn đoán và điều trị theo kết quả của bác sĩ.

Như vậy, phù thận có thể do thận, bệnh thận cũng ít khi gây đau lưng, còn yếu sinh lý thì hoàn toàn không phải do thận yếu. Nếu không bị phù thì cách phòng bệnh thận tốt nhất hiện nay là uống nhiều nước, đặc biệt là khi làm việc ngoài nắng, trong môi trường nóng nực, tập thể thao, lao động nặng. Nếu trong sinh hoạt hàng ngày, cứ 6-7 tiếng mới thấy buồn đi tiểu và nước tiểu có mầu vàng sẫm thì chắc chắn cơ thể bạn chưa được cung cấp đủ nước. Vì vậy cần uống nhiều nước, ít nhất là 2 lít nước mỗi ngày.

Bùi Tiến Dũng
(Tư vấn tiêu dùng)

Việt Báo (Theo_Thanh Niên)

 

10 triệu chứng biểu hiện suy thận

 

Rất nhiều người mắc bệnh thận mạn nhưng không biết, bởi vì những dầu hiệu ban đầu có thể là rất khó thấy. Có thể mất nhiều năm để bệnh thận mãn (tiếng anh viết tắt là CKD) tiến triển thành suy thận. Một số người mắc bệnh thận mãn sống đến hết đời của họ mà chưa từng tiến tới suy thận

 

 

 

Tuy nhiên, với nhiều người tại bất cứ giai đoạn nào của bệnh thận, thì hiểu biết về nó vẫn là tối ưu. Biết được các dấu hiệu của bệnh thận có thể giúp bạn có được cách điều trị tốt nhất. Nếu bạn hay một ai đó mà bạn biết có từ 1 triệu chứng trở nên trong số các triệu chứng của bệnh thận dưới đây, hay là khi bạn lo rằng bạn có vấn đề với thận của bạn, hãy đi khám bác sĩ để được xét nghiệm máu và nước tiểu. Hãy nhớ rằng, nhiều triệu chứng có thể không do bệnh thận gây nên. Nhưng cách duy nhất để biết nguyên nhân của các triệu chứng mà bạn đang có là đi khám bác sĩ

Triệu chứng thường thấy

Triệu chứng 1: Những thay đổi khi đi tiểu

Thận tạo ra nước tiểu, do vậy khi thận bị hỏng, có thể có những thay đổi đối với nước tiểu như sau:

- Bạn có thể phải thức dậy vào đêm để đi tiểu

- Nước tiểu có bọt hay có nhiều bong bóng. Bạn có thể đi tiểu nhiều lần hơn bình thường, hay lượng nước tiểu nhiều hơn bình thường và nước tiểu có màu nhợt

- Số lần bạn đi tiểu ít hơn bình thường, hay lượng nước tiểu ít hơn bình thường, nước tiểu có màu tối.

- Nước tiểu của bạn có thể có máu

- Bạn có thể cảm thấy căng tức hay đi tiểu khó khăn

Dưới đây là môt tả của bệnh nhân:
“Khi bạn vào nhà vệ sinh nhiều hơn, bạn không thể đi tiểu hết. Và sau đó bạn vẫn cảm thấy giống như sự căng tức xuôi xuống dưới, thật sự là rất căng tức”
“Nước tiểu là thứ đầu tôi bắt đầu để ý đến. Sau đó tôi vào nhà vệ sinh thường xuyên hơn và khi vào nhà vệ sinh, tôi không thể đi tiểu. Bạn nghĩ rằng bạn cần phải đi tiểu, nhưng khi vào đến nhà vệ sinh: kết quả là chỉ hai hay ba giọt mà thôi”
“Tôi đi tiểu ra máu. Nước tiểu có màu rất sẫm giống như màu nho. Và khi tôi tới bệnh viện khám, ở đó họ lại nghĩ rằng tôi nói dối về màu của nước tiểu”

Triệu chứng 2: Phù

Những quả thận bị hỏng không loại bỏ chất lỏng dư thừa nữa, do vậy chất lỏng tích tụ trong cơ thể bạn khiến bạn bị phù ở chân, cổ chân, bàn chân, mặt và/hay tayMô tả của bệnh nhân
“Tôi nhớ rằng tôi bị phù rất nhiều ở cổ chân. Cổ chân của tôi to đến nỗi tôi không thể đi giày nữa”
“Với chị tôi, tóc cô ấy bắt đầu rụng, cô ấy gầy đi, nhưng mặt thì thực sự là căng phồng lên, bạn biết đấy mọi thứ cứ giống như vậy cho đến khi cô ấy phát hiện ra rằng cô ấy mắc bệnh”
“Đi làm việc vào một buổi sáng, cổ chân tôi sưng phồng lên, thực sự là phồng to, và tôi rất rất mệt khi đi bộ đến bến đỗ xe bus. Và lúc đó tôi biết rằng tôi phải đi khám bác sĩ”
Triệu chứng 3: Mệt mỏi
Những quả thận khỏe mạnh tạo ra một hormon gọi là erythropoietin (đọc là a-rith'-ro-po'-uh-tin), hormon này thông báo cho cơ thể tạo ra các tế bào hồng cầu mang oxy.

Khi thận bị hỏng (suy), chúng tạo ra ít erythropoietin hơn. Do vậy cơ thể bạn có ít các tế bào hồng cầu vận chuyển oxy hơn, nên các cơ và đầu óc của bạn mệt đi nhanh chóng. Tình trạng này được gọi là thiếu máu. Và bệnh này có thể điều trị được.
Mô tả của bệnh nhân
“Tôi đột ngột cảm thấy mệt lả và không còn một chút tỉnh nào.”
“Tôi đã ngủ rất nhiều. Tan sở tôi về nhà và lên giường đi ngủ ngay”

“Nó như thể lúc nào bạn cũng cực kì mệt mỏi. Bị mệt, và sức khỏe của bạn như bị chảy đi hết thậm chí khi bạn chẳng làm gì cả”
Triệu chứng 4: ngứa/phát ban ở da
Thận loại bỏ các chất thải ra khỏi mãu. Khi thận bị suy, sự tích tụ của các chất thải này trong máu của bạn có thể gây ra những trận ngứa ở mức độ nặng.
Mô tả của bệnh nhân:
“Đó không hẳn chỉ là một trận ngứa ở da, mà nó chạy dọc xương. Tôi đã phải dùng bàn chải mà đào lên da thịt. Lưng của tôi rớm máu do bị cào quá nhiều.”
“Da tôi đã bị rách. Tôi đã rất ngứa và gãi rất nhiều”
Triệu chứng 5: Vị kim loại ở trong miệng/hơi thở có mùi amoniac
Sự tích tụ của các chất thải trong máu (được gọi là chứng urê huyết) có thể khiến thức ăn có vị khác đi và khiến hơi thở có mùi. Bạn cũng có thể để ý thấy rằng bạn không thích ăn thịt nữa, hay bạn giảm cân bởi vì bạn cảm thấy không thích ăn
Mô tả của bệnh nhân
“Bạn sẽ cảm thấy có vị lợm ở trong mồm bạn, Gần giống như bạn vừa uống sắt vậy.”
“Bạn không còn thèm ăn như trước đây nữa”
“Trước khi tôi bắt đầu lọc máu, tôi đã giảm khoảng 10 pound trọng lượng”
Triệu chứng 6: Buồn nôn và nôn
Sự tích tụ dữ dội của các chất thải trong máu (chứng ure huyết) cũng có thể gây nên tình trạng buồn nôn và nôn. Chán ăn có thể dẫn tới sút cân.
Mô tả của bệnh nhân
“tôi có rất nhiều cơn ngứa, và tôi bị nôn, nôn tất cả mọi thứ ra ngoài. Tôi không thể giữ bất cứ đồ ăn thức uống nào ở lại trong dạ dày cả.”
“khi tôi nôn, tôi không thể ăn, và lúc đó tôi đã có một thời gian khó khăn khi uống thuốc hạ huyết áp.”
Triệu chứng 7: Thở nông
Sự khó thở của bạn có thể có liên quan tới thận theo 2 cách sau, thứ nhất đó là chất lỏng dư thừa trong cơ thể của bạn tích tụ trong hai lá phổi. Và thứ hai, chứng thiếu máu (sự thiếu hụt các tế bào hồng cầu vận chuyển oxy) có thể khiến cơ thể bạn đói oxy và sinh ra chứng thở nông
Mô tả của bệnh nhân
“những lúc tôi thở nông, điều đó sẽ làm tôi sợ hãi. Tôi nghĩ có lẽ tôi có thể ngã hoặc sẽ có cái gì đó xảy ra với tôi, do vậy thường thì tôi đi tìm một chỗ để ngồi trong chốc lát”
“ Tôi không thể ngủ vào ban đêm, tôi không thể thở được, nó giống như tôi bị chết chìm. Và, tôi không thể bước đi đâu được nữa. Điều đó thật là tệ”
“bạn đi lên tầng trên để dọn phòng và lúc đó bạn hết thở được nữa, hay khi bạn làm việc bạn trở nên mệt mỏi và bạn phải ngưng công việc lại”
Triệu chứng 8: cảm thấy ớn lạnh
Thiếu máu có thể khiến bạn cảm thấy lúc nào cũng lanh, thậm chí khi bạn đang ở trong phòng có nhiệt độ ấm.
Mô tả của bệnh nhân:
“Tôi để ý thấy rằng thỉnh thoảng, tôi thực sự lanh, lúc đó tôi có những cơn rùng mình”
“Đôi khi tôi trở nên rất rất lạnh. Thời tiết lúc đó có thể nóng, và tôi thì vẫn lạnh”
Triệu chứng 9: Hoa mắt chóng mặt và mất tập trung
Thiếu máu liên quan đến suy thận nghĩa là não của bạn sẽ không được cung cấp đủ oxy nữa. Điều này có thể dẫn tới các vấn đề về trí nhớ, gây ra sự mất tập trung, hoa mắt và chóng mặt.
Mô tả của bệnh nhân:
“Tôi nhớ là tôi đã đề cập với vợ tôi về trí nhớ của tôi rằng tôi không thể nhớ những gì tôi đã làm từ tuần trước, hay có thể là 2 hôm trước thôi. Tôi thực sự không thể tập trung, vì tôi thích chơi giải ô chữ và đọc nhiều, nhưng không thể tập trung được.”

“Tôi đã luôn luôn mệt mỏi và hoa mắt chóng mặt.”

“Tình trạng đó xấu tới độ, tôi đang làm việc, và thật đột ngột tôi hoa mắt chóng mặt. do vậy tôi đã nghĩ rằng có lẽ là huyết áp của tôi hay bệnh tiểu đường của tôi trở nên xấu đi. Đó là những gì mà tôi đã nghĩ”
Triệu chứng 10: đau chân/cạnh sườn

Một số người mắc các bệnh về thận có thể bị đau ở lưng hay sườn điều này là do thận bị ảnh hưởng. Bệnh thận đa nang, có thể khiến các nang trong thận chứa đầy chất lỏng và to lên, và đôi khi thì gan, cũng có thể gây đau.

Mô tả của bệnh nhân
“Khoảng 2 năm trước, tôi lúc nào cũng vào nhà vệ sinh, và phần thấp của lưng luôn luôn đau đớn, tôi tự hỏi vì sao lại có chuyện như vậy….các bác sĩ đã chuẩn đoán rắng đó là do các vấn đề ở thận”
“Và sau đó bạn phải thức dậy trong đêm, lúc đó bạn bị đau ở sườn và lưng, bạn không thể nhúc nhích được.”
“vào ban đêm, tôi hay bị đau vùng sườn. Nó còn tệ hơn là đau nhức do làm việc nặng.”

(Theo Benhthan)

 

 

Bệnh thận mãn tính và suy thận

 

 

Bệnh thận thường không gây ra triệu chứng gì cho tới khi đã tiến triển cho nên những ai trong diện có nguy cơ cao bị bệnh thận cần được thầy thuốc kiểm tra thường xuyên. Nhiều trường hợp nhờ chẩn đoán và điều trị sớm nên sự tiến triển đến bệnh thận mãn tính chậm lại nhưng một số trường hợp chức năng thận vẫn diễn biến xấu và cuối cùng dẫn đến suy thận.

 

 

 

 

Thận có 4 chức năng chính:

- Giữ cân bằng dịch trong cơ thể

- Giữ cân bằng các chất khoáng mà cơ thể cần để duy trì hoạt động bình thường, nhất là chất kali để kiểm soát hoạt động của thần kinh và cơ, quá nhiều hay quá ít kali cũng có thể gây ra yếu cơ và vấn đề cho tim

- Loại bỏ các sản phẩm giáng hoá của protein (trong thực phẩm) như urê, creatinine (tạo ra trong tiến trình vận động cơ bắp)

- Giải phóng một số hormon thiết yếu vào máu như renin (điều hoà huyết áp), erythropoietin (EPO) giúp tuỷ xương tạo hồng cầu và hoạt hoá vitamin D để hấp thụ canxi trong thức ăn nhằm tăng cường cho xương. 
Nguyên nhân thường gặp nhất của bệnh thận mãn tính và suy thận:
Một số người dễ phát triển bệnh thận, nếu có: 
- Bệnh tiểu đường

- Cao huyết áp

- Viêm cầu thận

- Bệnh di truyền như thận đa nang, hội chứng Alport

- Nhiễm khuẩn, nghẽn tắc hay bệnh bẩm sinh đường tiết niệu

- Bệnh lupus ban đỏ hệ thống

- Bệnh phì đại và ung thư tuyến tiền liệt

- Dùng thuốc giảm đau loại chống viêm không có nhân steroid (NSAID) dài hạn như ibuprofen, ketoprofen và cả một số kháng sinh.
Bệnh thận thường không gây ra triệu chứng gì cho tới khi đã tiến triển cho nên những ai trong diện có nguy cơ cao bị bệnh thận cần được thầy thuốc kiểm tra thường xuyên. Nhiều trường hợp nhờ chẩn đoán và điều trị sớm nên sự tiến triển đến bệnh thận mãn tính chậm lại nhưng một số trường hợp chức năng thận vẫn diễn biến xấu và cuối cùng dẫn đến suy thận
Các giai đoạn của bệnh thận mãn tính: 
Các tét chẩn đoán, đặc biệt là đo tốc độ lọc của cầu thận sẽ giúp xác định các giai đoạn của bệnh thận mãn tính.
Giai đoạn I: Đã có tổn thương ở thận nhưng tốc độ lọc của cầu thận vẫn ở mức bình thường trên 90.
Giai đoạn II: Tổn thương thận kèm giảm tốc độ lọc của cầu thận (60 - 89).
Giai đoạn III: Tốc độ lọc của cầu thận giảm trung bình (30 - 59).
Giai đoạn IV: Tốc độ lọc của cầu thận giảm nặng (15 - 29). Lúc này đã cần lựa chọn một phương pháp điều trị.
Giai đoạn V: Tốc độ lọc của cầu thận giảm dưới 15, thận không còn làm việc tốt để duy trì được sức khoẻ cho người bệnh và cần chạy thận nhân tạo hay ghép thận.
Điều trị bệnh thận mãn tính
Khi chức năng thận đã giảm thì cần có biện pháp để giúp cơ thể loại bỏ chất muối, nước thừa và các sản phẩm giáng hoá có trong máu bằng cách điều chỉnh lượng muối, protein, phosphore, calo và các chất khác trong bữa ăn hàng ngày. Chế độ dinh dưỡng thận trọng giúp người bệnh cảm thấy dễ chịu và kéo dài thời gian làm việc của thận (cần tư vấn chuyên gia về dinh dưỡng).
Về thuốc cần dùng thuốc kiểm soát huyết áp, duy trì cân bằng về vitamin và chất khoáng, điều trị thiếu máu (bằng EPO nhân tạo, giúp tăng huyết sắc tố lên mức tối thiểu 11 - 12 và nhiều thuốc khác), thuốc giúp cho xương khoẻ bằng vitamin D3, canxi.
Vận động thường xuyên vẫn rất cần thiết cho người có bệnh thận mãn tính vì giúp tăng sức khoẻ, nghị lực sống, giảm huyết áp, cải thiện giấc ngủ, kiểm soát cân nặng, giảm nồng độ mỡ máu. 
Nguy cơ sức khoẻ của bệnh thận mãn tính: 
Khi bệnh thận có diễn biến xấu thì nhiều vấn đề sức khoẻ có thể xảy ra như thiếu máu, bệnh xương, tổn thương thần kinh và cao huyết áp. 
Tổn thương thần kinh ngoại biên: Gây yếu chân, tay hay có cảm giác kiến bò, cảm giác nóng rát hay khó chịu và bứt rứt ở bàn chân, cẳng chân, dáng đi thay đổi. 
Cao huyếp áp: Không chỉ là nguyên nhân nhân chính gây suy thận mãn tính mà còn có thể là hậu quả của bệnh thận, gây tổn thương cho tim và mạch máu. Suy thận có tác động lớn đến huyết áp vì thận không còn duy trì được cân bằng dịch trong cơ thể. Khi dịch ứ đọng ở phổi có thể gây khó thở và suy tim do xung huyết.

BS Đào Xuân Dũng

(Theo Laodong.com.vn)

 

 

 

Hội chứng suy thận mãn tính

 

 

Suy thận mãn tính là hậu quả cuối cùng của nhiều bệnh thận do viêm nhiễm mãn tính, do xơ hoá tổ chức nhu mô thận làm giảm dần số lượng đơn vị chức năng (nephron), chức năng thận giảm dần không hồi phục.

 

 

 

 

Thận mất dần khả năng điều chỉnh nội môi; mất khả năng bài tiết các chất cặn bã được sản sinh ra trong quá trình chuyển hoá; mất khả năng điều hoà kiềm toan, rối loạn nước điện giải, gây tổn thương nhiều cơ quan, nội tạng. Bệnh nhân tử vong do nhiễm toan, do tăng kali máu, suy tim cấp tính hoặc suy tim mãn tính mất bù, hen tim, phù phổi, tai biến mạch não, nhiễm khuẩn kết hợp.

Nguyên nhân

+ Viêm cầu thận tiên phát (viêm cầu thận không rõ căn nguyên).

+ Viêm cầu thận thứ phát:

 - Luput ban đỏ hệ thống, viêm đa cơ.

 - Viêm các mạch máu nhỏ: PAN (polyarteritis nodosa) cổ điển, viêm mạch máu dị ứng (bệnh Charg-Trauss), viêm các vi mạch (microscopic arteriris), bệnh u hạt Wegener, Henock-Schonlein, xơ cứng bì, đái đường.

- Hội chứng Goodpasture.

- Amylodosis, bệnh chuỗi nhẹ, bệnh chuỗi nặng, tăng cryoglobulin máu.

+ Bệnh kẽ thận.

+ Bệnh mạch máu thận.

+ Bệnh thận bẩm sinh.

Triệu chứng lâm sàng và sinh học.

Triệu chứng toàn thân

Nhìn chung, sức khoẻ của bệnh nhân suy thận mãn tính suy sụp, da xanh, niêm mạc nhợt nhạt do thiếu máu kéo dài, tóc thưa dễ rụng, cơ chân tay teo nhẽo, da khô và có thể nhiều vết xước do gãi, mặt mày phờ phạc, vô lực; thờ ơ lạnh nhạt với mọi công việc; tình trạng mệt mỏi kéo dài liên miên nếu không được điều trị.

Thiếu máu

Thiếu máu là một triệu chứng lâm sàng rất thường gặp, tuy rằng đây không phải là triệu chứng đặc hiệu. Tình trạng thiếu máu phụ thuộc vào giai đoạn suy thận. Suy thận giai đoạn cuối có tỷ lệ thiếu máu 100%, dù thiếu máu không phải là triệu chứng đặc hiệu.

Ở một bệnh nhân bị bệnh thận, xuất hiện triệu chứng thiếu máu thì nguyên nhân thiếu máu đầu tiên là do suy thận mãn tính và nhiều tác giả đã dựa vào dấu hiệu thiếu máu để phân độ suy thận mãn. Thiếu máu kết hợp với tăng huyết áp là hai triệu chứng lâm sàng có giá trị chẩn đoán suy thận. Cơ chế bệnh sinh của thiếu máu là do thiếu erythropoietin, do tủy xương bị ức chế và do đời sống hồng cầu giảm.


Mối tương quan giữa thiếu máu và giai đoạn suy thận.

Giai đoạn

Số lượng HC/ml

HST g/l

Mức độ thiếu máu

I

> 3,5 triệu

90- 100

Nhẹ

II

2,5 - 3,1

70- 90

Vừa

III

2,0 - 2,5

60- 70

Nặng

IV

< 2 triệu

< 60

 

    
Thiếu máu sẽ gây nên những triệu chứng mệt mỏi, ù tai, chóng mặt, khả năng tư duy và tập trung kém, hay quên, một trạng thái âm u khó chịu, mất khả năng tình dục, chất lượng cuộc sống giảm sút rõ rệt. Nếu tình trạng thiếu kéo dài gây nên tình trạng khó thở, ngột ngạt, thiếu ôxy mãn tính. Thiếu máu mãn tính dẫn đến tăng lưu lượng tim, tăng gánh nặng cho tim gây suy tim.

Số lượng tiểu cầu và hoạt động của tiểu cầu giảm là nguy cơ của rối loạn đông máu, xuất huyết do giảm tiểu cầu. Số lượng bạch cầu bình thường nhưng hoạt động của bạch cầu đa nhân trung tính, của đại thực bào và của các tế bào lympho đều giảm là nguy cơ của nhiễm khuẩn trong suy thận mãn tính.

Triệu chứng về tim mạch:

Tăng huyết áp (THA)

Tăng huyết áp là biến chứng tim mạch hay gặp nhất, chiếm 90 - 95%. Suy thận mãn không có THA là rất hãn hữu. HA tăng cả tối đa lẫn tối thiểu và thường THA kịch phát.

Điều trị THA trong suy thận mãn cực kỳ khó khăn cần phải phối hợp  hai đến ba loại thuốc khác nhóm. THA sẽ gây nên nguy cơ suy tim  trái cấp tính; phù nề, xuất huyết đáy mắt. Tổn thương đáy mắt một phần do THA, một phần tổn thương do tăng urê. Đột qụy não do tăng huyết áp thực chất là xuất huyết não gây ổ máu tụ hoặc xuất huyết não thất.

 Khác với THA do viêm cầu thận mãn tính, trong viêm cầu thận cấp tính, HA cũng có thể rất cao nhưng không bao giờ gây xuất huyết, phù nề võng mạc. THA là một yếu tố nguy cơ của suy thận, thúc đẩy quá trình tiến triển của suy thận. Vì vậy, khi có THA dù ở bất kỳ giai đoạn nào của suy thận cũng phải điều trị tích cực đưa HA trở về < 140/90 mmHg.

Viêm màng ngoài tim

Viêm màng ngoài tim thường gặp ở giai đoạn cuối của suy thận. Viêm màng ngoài tim vô khuẩn do tác động của tăng urê máu. Urê máu được đào thải qua các thanh mạc gây hoạt hoá quá trình viêm.

Ngoài ra, viêm màng ngoài tim có thể do nhiễm khuẩn. Tình trạng viêm màng ngoài tim sẽ trầm trọng thêm do sự lắng đọng phức canxi-phosphat ở màng ngoài tim, do sử dụng heparin trong chạy thận nhân tạo.

Biểu hiện lâm sàng của viêm màng ngoài tim là tiếng cọ màng tim. Trước đây, người ta cho rằng tiếng cọ màng ngoài tim là tiếng kèn đưa ma của bệnh nhân suy thận mãn tính nhưng ngày nay tiên lượng đã thay đổi nhiều. Viêm màng ngoài tim biểu hiện bằng các triệu chứng đau vùng trước tim âm ỉ không thành cơn, có thể kèm theo cảm giác khó thở, ngột ngạt khó chịu.

Viêm màng ngoài tim khô hoặc viêm màng ngoài tim xuất tiết dẫn đến tràn dịch màng ngoài tim, tràn máu màng ngoài tim. Tùy theo số lượng dịch màng ngoài tim mà biểu hiện lâm sàng khác nhau, mức độ chèn ép tim khác nhau, dầu sao vẫn phải đề phòng chèn ép tim cấp tính gây khó thở dữ dội, tim to, tĩnh mạch cổ nổi, tăng áp lực tĩnh mạch, có thể tử vong do trụy mạch

Suy tim

Suy tim thường gặp trong hội chứng tăng urê máu mãn tính. Nguyên nhân và bệnh sinh của suy tim do tác động của các yếu tố sau:

+ Do rối loạn chuyển hoá:

Tăng urê máu gây rối loạn chuyển hoá trong tế bào cơ tim, sự thiếu hụt năng lượng, tình trạng ứ nước nội bào, sự ứ trệ các sản phẩm của chuyển hoá dẫn đến giảm khả năng co bóp của cơ tim.

+ Do tăng huyết áp:

Tăng huyết áp là một trong những nguyên nhân quan trọng của suy tim, thời gian đầu có phì dày đồng tâm  thất trái, cơ tim càng dày thì khả năng tưới máu càng kém, trương lực cơ tim, sức co bóp của cơ tim giảm dần, tim giãn to; tim mất khả năng cung cấp máu theo nhu cầu của cơ thể. Tăng HA kịch phát có thể dẫn đến hen tim-phù phổi, đe doạ tính mạng bệnh nhân và là một cấp cứu thường gặp ở bệnh nhân suy thận mãn tính.

+ Do thiếu máu:

Thiếu máu trong suy thận mãn tính dẫn đến thiếu oxy do giảm huyết sắc tố, tim tăng cường hoạt động để đảm bảo nhu cầu ôxy cho cơ thể. Quá trình hoạt động bù trừ do tình trạng thiếu ôxy sẽ làm tăng tần số tim, tăng cung lượng tim, tăng khối lượng máu lưu hành. Sự hoạt động quá tải dẫn đến suy yếu cơ tim.     

+ Do viêm màng ngoài tim:  

Viêm màng ngoài tim hạn chế độ giãn nở của tim, ứ máu ngoại vi, giảm khối lượng máu tâm trương, giảm cung lượng tim.

+ Ngoài ra, suy tim còn do tăng lưu lượng tuần hoàn, do ứ muối. Hậu quả của suy tim là giảm trương lực, giảm khả năng co bóp, giảm cung lượng tim.

+ Biểu hiện lâm sàng của suy tim ứ huyết (bệnh lý cơ tim thể giãn) với các triệu chứng: khó thở khi gắng sức, khó thở kịch phát về đêm. Khó thở ngày một tăng dần tùy theo mức độ suy tim, có thể suy tim cấp tính dẫn đến phù phổi cấp tính, bệnh nhân khó thở hết sức giữ dội, tím tái, toát mồ hôi, ho khạc ra bọt màu hồng.

Rối loạn nhịp

Nhịp xoang nhanh, ngoại tâm thu thất, nhịp nhanh kịch phát trên thất, nhịp nhanh kịch phát thất nhưng nghiêm trọng nhất ở bệnh nhân suy thận mãn tính là ngừng tim do tăng kali máu.

Đây là nguyên nhân của chết đột ngột, đột tử ở bệnh nhân suy thận mãn tính giai đoạn cuối. Không có dấu hiệu đặc trưng cho tăng kali máu, thường xuất hiện các dấu hiệu vu vơ như bứt rứt, khó chịu, kêu rên, vật vã, cáu gắt, khó thở nhẹ.

Cần làm điện tim để kiểm tra kali máu. Hình ảnh điện tim của tăng kali máu là: sóng T cao nhọn cân đối, QT ngắn. Kali máu tăng là một cấp cứu nội khoa và cần chạy thận nhân tạo sớm để  ngăn ngừa chết đột ngột do tăng kali máu.

Biểu hiện về tiêu hoá

Biểu hiện về tiêu hoá của suy thận mãn tính thời gian đầu tản mãn với các triệu chứng chán ăn, cảm giác không đói, sôi bụng. Suy thận mãn tính giai đọan III và IV thì các triệu chứng về tiêu hoá chiếm ưu thế.

Nôn mửa

Nôn mửa là triệu chứng nổi bật hàng đầu trong suy thận giai đoạn cuối, lúc đầu chỉ nôn sau khi ăn, sau đó là liên tục triền miên, nôn ra mật xanh mật vàng, nôn khan, không thể nào ăn uống được, bệnh nhân mệt lả, không thuốc nào cầm được nôn. Phương pháp duy nhất để cho bệnh nhân hết nôn là giảm urê máu bằng chạy thận nhân tạo và thẩm phân phúc mạc.

Đi lỏng

Đi lỏng ngày 5 - 6 lần, đi lỏng như tháo cống kèm theo đau quặn vùng bụng. Đây là phản ứng của hệ thống tiêu hoá trước thực trạng của tăng urê máu, là biện pháp đào thải urê ra khỏi cơ thể. Mặt khác, ruột bị kích thích bởi NH3 được tạo ra do hậu quả phân hủy urê của vi khuẩn đường ruột.

Viêm loét hệ thống tiêu hoá

- Viêm niêm mạc miệng, chảy máu chân răng, loét mép không há được miệng; môi khô, nứt môi rớm máu

- Viêm tuyến nước bọt: hai tuyến nước bọt  mang tai sưng to.

- Viêm loét thực quản gây cảm giác nóng rát và đau sau xương ức, nuốt vướng nghẹn. Những tổn thương ở đường tiêu hoá trên sẽ gây nên một cảm giác khó chịu ở vùng miệng,  ăn uống rất khó  khăn, thậm  chí không thể ăn được, không thể uống được.    

- Viêm niêm mạc dạ dày-ruột: đau bụng, đau lâm râm ở vùng thượng vị không có chu kỳ rõ rệt, bệnh nhân kêu ca suốt ngày, hay đầy bụng, chướng hơi. Một số ít trường hợp xuất hiện cơn đau bụng cấp tính.

-  Tăng tiết dịch  tiêu hoá:    

 . Tăng tiết dịch dạ dày-ruột.

. Tăng tiết dịch tụy, dịch mật.

. Tăng amylase máu.

. Tăng gastrin gây tổn thương ống tiêu hoá giống như hội chứng Zollinger-Ellison.

Xuất huyết tiêu hoá

Xuất huyết đường tiêu hoá là một biến chứng hết sức nguy hiểm. Biểu hiện lâm sàng của xuất huyết tiêu hoá là nôn ra máu, ỉa phân đen và khắm; thiếu máu trầm trọng xuất hiện đột ngột; bệnh nhân đi vào hôn mê do tăng urê máu, do nhiễm  toan.

Triệu chứng hô hấp

+ Viêm màng phổi với biểu hiện đau ngực và có tiếng cọ màng phổi (viêm màng phổi khô). Nếu không được điều trị kịp thời sẽ dẫn đến viêm màng phổi xuất tiết gây tràn dịch màng phổi, tràn máu màng phổi. Biểu hiện lâm sàng của tràn dịch màng phổi với các triệu chứng: khó thở, đau ngực và hội chứng 3 giảm ở nền phổi và thường là nền phổi phải.

+ Viêm  xuất tiết các phế nang:

Viêm xuất tiết phế nang dẫn đến tình trạng phù phổi cấp không có rối loạn huyết động, không liên quan đến tăng áp lực động mạch phổi, không có dấu hiệu suy tim và cũng là nguyên nhân tử vong của suy thận mãn tính.

+ Tình trạng bội nhiễm ở phổi:

Phổi là cửa ngõ quan trọng của cơ thể với môi trường xung quanh. Với một cơ địa kém, sức đề kháng suy giảm, hệ thống bảo vệ dọc theo khí-phế quản giảm hoạt động, đó là những điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn đường hô hấp hoạt động gây viêm phế quản hoặc viêm phổi, áp xe phổi ổ nhỏ mà nhiều lúc cơ thể mất phản ứng, không sốt

+ Trạng thái thiếu ôxy mãn tính:

Thường xuyên có cảm giác ngột ngạt, mệt mỏi. Phân áp ôxy máu thường xuyên giảm nhưng thông khí phổi bình thường. Bệnh sinh của thiếu ôxy là do phù nề tổ chức kẽ của phổi, giảm khả năng hấp thu ôxy ở phổi. Suy thận mãn tính giai đoạn cuối thường xuất hiện ngừng hô hấp đột ngột dẫn đến tử vong.

Triệu chứng tâm-thần kinh

Những biểu hiện của tâm-thần kinh liên quan đến sự suy giảm hoạt động của tế bào não. Triệu chứng thường gặp là sự giảm sút về trí não, khả năng tư duy kém, độ tập trung kém, không quan tâm hồ hởi bất kỳ một công việc gì, rối loạn tâm thần, nói lảm nhảm; nặng hơn nữa là trạng thái u ám, cáu gắt vô duyên cớ, ngủ gà, ngủ ngáy to, thở chậm và sâu.

Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh nhân rơi vào trạng thái hôn mê do nhiễm toan chuyển hoá, mất ý thức trong trạng thái hoảng loạn la hét, chửi bới, run giật các sợi cơ, co giật, co cứng do giảm canxi máu, co giật cục bộ, nhịp thở Kussmaul, hơi thở khai, đồng tử co nhỏ, đái ỉa không tự chủ, trụy mạch và tử vong.

Ngoài những tổn thương hệ thống thần kinh trung ương, có thể xuất hiện tình trạng viêm đa dây thần kinh ngoại vi, giảm phản xạ gân xương, giảm cảm giác và có thể liệt hai chi dưới, bàn chân thuổng, đau nhức vùng cẳng chân và bàn chân không rõ căn nguyên, có khi đau dữ dội làm bệnh nhân kêu la, vật vã. Một số trường hợp có tai biến mạch máu não (xuất huyết não) liệt 1/2 người.

Rối loạn đông máu, chảy máu

- Xuất huyết dưới da rất hay gặp, nhất là xuất huyết chỗ tiêm lan rộng thâm tím từng mảng.

- Xuất huyết niêm mạc miệng, chân răng, máu chảy rỉ rả cả ngày, môi se rớm máu.

- Xuất huyết nội tạng :

 . Xuất huyết tiêu hoá.

 . Tràn máu màng tim.

 . Tràn máu màng phổi.

 . Xuất huyết võng mạc.

 . Xuất huyết não.

Cơ chế xuất huyết là do giảm tiểu cầu, giảm antiprothrombin, sức bền thành mạch giảm và có thể xuất hiện tình trạng đông máu rãi rác trong lòng mạch ở nhiều cơ quan nội tạng.

Biểu hiện xương khớp và nội tiết

- Viêm khớp do tăng axit uric máu (Gút thứ phát) hoặc viêm khớp do lắng đọng b2 microglobulin. Sự tích tụ b2 microglobulin trong khớp và nội tạng hình thành amylodosis. Amyloidosis do lắng đọng b2 microglobulin thường gặp ở bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối được lọc máu chu kỳ.

-  Thưa xương, dẫn đến gãy xương tự phát, thường gặp gãy xương sườn, xẹp đốt sống. Một số trường hợp hoại tử cổ xương đùi vô khuẩn.

- Vôi hoá gân cơ quanh khớp, co rút gân cơ, hạn chế cử động khớp. Đau nhức xương do nhuyễn xương, thưa xương và do viêm xơ xương phá hủy (viêm xương xơ nang). Khoảng 10% tổn thương xương biểu hiện trên lâm sàng, 40 - 90% có biểu hiện trên X quang và trên sinh thiết xương.

Các rối loạn về xương là do cường chức năng cận giáp, giảm 1,25 dihydroxy vitamin D3, tăng phosphat máu, giảm canxi máu, kết hợp với tình trạng nhiễm độc nhôm hoặc sắt. Sự tăng phosphat và tăng huy động canxi từ tổ chức xương vào máu, tạo nên phức hợp canxi-phosphat lắng đọng trong cơ quan gây nên vôi hoá, xơ cứng mạch máu ở nội tạng, dưới da và gân cơ.

-  Suy giảm chức năng sinh dục do giảm hormon sinh dục nam và sinh dục nữ; vô kinh đối với phụ nữ, liệt dương bất lực đối với nam giới. Ngoài ra có thể suy giảm chức năng của một số tuyến nội tiết khác.

Các biến đổi sinh học

Mặc dù triệu chứng lâm sàng của suy thận mãn tính rất đa dạng phong phú nhưng để chẩn đoán chắc chắn là suy thận mãn tính và hội chứng tăng urê máu thì phải dựa vào các dấu hiệu về sinh học:

Giảm mức lọc cầu thận (MLCT):

+ MLCT bình thường là 120ml/phút. Giảm mức lọc cầu thận liên quan chặt chẽ tới tình trạng giảm số lượng nephron nguyên vẹn. Số lượng nephron giảm tỉ lệ thuận với giảm mức lọc cầu thận.

+ Tăng urê, creatinin: Song song với giảm MLCT, creatinin và urê máu tăng cao: 

-  Urê tăng từ 8 mmol/lít đến 30 - 40mmol/lít; urê máu tăng vừa phải, không tăng cao như trong suy thận cấp tính.

- Tăng axit uric máu là sản phẩm chuyển hoá của bazơ purin. Axit uric tăng trên 500mmol/lít. Một số trường hợp suy thân mãn tính xuất hiện Gút thứ phát, sưng đau nhiều khớp.

- Creatinin máu tăng từ 130 mmol/lít đến 1200 - 2500 mmol/lít. Trong suy thận mãn tính, tăng creatinin chiếm  ưu thế và liên quan chặt chẽ với tình trạng suy thận mãn tính.

Rối loạn chức năng cô đặc, pha loãng:

-  Giai đoạn I: Khả năng cô đặc giảm, khả năng pha loãng vẫn còn. Khối lượng nước tiểu nhiều đa niệu, tỷ trọng giảm. Tỷ trọng nước tiểu lúc cao nhất có thể 1,020; tỷ trọng lúc thấp nhất 1,007.

-  Giai đoạn II: Đồng tỷ trọng, mất khả năng cô đặc lẫn khả năng pha loãng. Số lượng nước tiểu giảm hơn bình thường. Tỷ trọng nước tiểu lúc cao nhất không vượt quá 1,018 và lúc thấp nhất không dưới 1,008. Hiện nay, người ta ít sử dụng chmaxnc năng cô đặc và pha loãng trong nội khoa để đánh giá chức năng thận trong suy thận mãn nhưng vẫn sử dụng trong suy thận cấp, sau phẫu thuật thận-tiết niệu, sau ghép thận.

Rối loạn điện giải:

-  Tăng K+ máu xuất hiện khi có thiểu niệu, nhiễm toan chuyển hoá.

-  Nhiễn toan chuyển hoá: pH máu giảm, dự trữ kiềm giảm.

-  Tăng P04---, tăng Mg++.

-  Giảm Ca++ máu là nguyên nhân gây co giật, thường xảy ra ở bệnh suy thận được truyền dung dịch nabica làm giảm canxi ion hoá. Tăng phosphat, tăng canxi máu là yếu tố nguy cơ của bệnh lý xương khớp.

-  Na+, Cl- ngoại bào (giảm chiếm ưu thế).

Giảm  kích thước thận

Tiến triển của suy thậm mãn tính

Triệu chứng của suy thận mãn tính đa dạng, phong phú nhưng khi chẩn đoán chỉ dựa vào hai tiêu chuẩn chủ yếu: mức lọc cầu thận (MLCT) giảm và creatinin tăng. Nguyên nhân suy thận mãn tính ở người trẻ là viêm cầu thận mãn; ở người già bị suy thận mãn chủ yếu là do đái đường và bệnh lý động mạch máu thận. Dựa vào creatinin và MLCT, người ta chia suy thận mãn làm 4 giai đoạn:

Các giai đoạn suy thận dựa trên mức lọc cầu thận và creatinin máu.

Các giai đoạn của
STMT

Creatinin mmol/lít

MLCT ml/phút

 Giai đoạn  I                    

<130

60 - 41

 Giai đoạn  II

130 - 299

40 - 21

 Giai đoạn  IIIa 
 Giai đoạn  IIIb
 Giai đoạn IV

300 - 499
500 - 900
> 900

20 - 11
10 - 5
< 5

Nguyên nhân tử vong của suy thận

+ Tăng huyết áp:

Tăng huyết áp kịch phát, huyết áp tối đa vượt quá 220 mmHg, gây nhiều biến chứng nguy hiểm, phù phổi cấp tính dẫn đến tử vong.

+ Tai biến mạch máu não:

Nguyên nhân chủ yếu của tai biến mạch máu não:

-  Do tăng huyết áp.

- Do hội chứng tan máu-tăng urê máu (HUS: hemolytic uremic syndrome).     

- Xuất huyết do giảm tiểu cầu (TTP: thrombotic thrombocytopenic purpura).

+ Nhồi máu cơ tim xảy ra ở bệnh nhân lớn tuổi, dẫn đến sốc tim, rối loạn nhịp: nhịp nhanh kịch phát trên thất, nhịp nhanh kịch phát thất, rung thất; rối loạn dẫn truyền: blốc nhĩ-thất độ II gây hội chứng Adam-Stoke, suy tim cấp tính, phù phổi.

+ Suy tim mãn tính không hồi phục từ độ I đến độ IV.

+ Xuất huyết tiêu hoá: đi ngoài ra máu, nôn ra máu, huyết áp tụt, tăng urê máu, tăng creatinin máu. Suy thận cấp tính do lưu lượng máu đến thận giảm kết hợp với tăng urê máu ngoài thận xảy ra trên nền suy thận mãn tính, bệnh nhân đi vào hôn mê và tử vong.

+  Nhiễm khuẩn.

+  Tăng kali máu.

+  Nhiễm toan chuyển hoá: hôn mê sâu, rối loạn nhịp thở, suy hô hấp, suy tuần hoàn  và tử vong.

+ Tràn máu màng tim thường xuất hiện trên tình trạng viêm màng ngoài tim từ trước, ở bệnh nhân bị rối loạn đông máu hoặc do dùng heparin đường toàn thân trong quá trình chạy thận nhân tạo.

Ngày nay, tiên lượng của bệnh nhân suy thận mãn tính đã được cải thiện đáng kể, đời sống bệnh nhân được kéo dài trong nhiều năm bằng phương pháp điều trị thay thế:

- Chạy thận nhân tạo chu kỳ.

- Thẩm phân phúc mạc:

 . Thẩm phân phúc mạc liên tục.

. Thẩm phân phúc mạc chu kỳ.
. Thẩm phân phúc mạc gián cách trong đêm.

 - Ghép thận.

(Theo Benhhoc.com)

 

 

 

Suy thận mãn tính là gì?

 

 

 

Thận là một cặp cơ quan hình hạt đậu nằm hai bên cột sống ở vùng giữa bên dưới của lưng. Mỗi quả thận nặng khoảng ¼ cân Anh (pound) = 112.5 gram và chứa khoảng một triệu đơn vị lọc gọi là các ống sinh niệu (nephrons).

 

 

 

Thận và chức năng thông thường của thận

Mỗi ống sinh niệu (nephron) được cấu tạo bởi một tiểu cầu (glomerulus) và một ống nhỏ (tubule). Tiểu cầu (glomerulus) là một cái lọc thu nhỏ hay thiết bị giống như cái sàng/ cái rây trong khi ống nhỏ (tubule) là một cái ống nhỏ xíu như cấu trúc gắn liền đối với tiểu cầu (glomerulus).

Quả thận được kết nối với bàng quang (urinary bladder) do các ống gọi là ống niệu quản (ureters). Nước tiểu được lưu giữ trong bàng quang cho đến khi bàng quang được là làm trống bằng cách đi tiểu. Bàng quang được kết nối ra bên ngoài cơ thể bằng một ống khác như cấu trúc ống gọi là niệu đạo (urethra).

Chức năng chính của thận là loại bỏ chất thải và nước dư thừa từ máu. Thận tiến hành gạn lọc khoảng 200 lít máu mỗi ngày và sản xuất khoảng 2 lít nước tiểu.

Những sản phẩm phế thải được tạo ra từ các quá trình trao đổi chất bình thường bao gồm các phân hủy các mô hoạt động, thức ăn được tiêu hóa, và các chất khác.

Thận cho phép tiêu thụ nhiều loại thức ăn, các loại thuốc, các loại vitamin và các chất bổ sung, chất phụ trợ, và chất lỏng dư thừa mà không cần lo lắng rằng độc hại của sản phẩm sẽ tích lũy lên đến mức có hại.

Thận cũng đóng một vai trò chính trong điều chỉnh về mật độ khác nhau của các khoáng chất như calcium, sodium và potassium trong máu.

- Ở bước đầu tiên trong sự gạn lọc, máu được chuyển vào tiểu cầu (glomeruli) do bởi các mạch máu có kẽ hở cực nhỏ gọi là những mao quản/ mao mạch (capillaries). Tại đây, máu được lọc ra các sản phẩm phế thải và dung dịch dư thừa trong khi các tế bào máu đỏ, chất đạm (protein), và các phân tử lớn được giữ lại trong các mao quản (capillaries). Ngoài các chất phế thải, một số các chất hữu dụng cũng bị lọc ra. Phần máu lọc ra được gom lại trong 1 túi gọi là Bowman của nang và chảy vào trong các ông nhỏ .

- Những ống nhỏ này là bước kế tiêp trong qui trình gạn lọc . Những ống nhỏ được lót bằng tế bào cao chức năng để tiến hành sự gạn lọc, thẩm thấu lại nước và hóa chất hữu ích cho thân thể trong khi giữ lại một số chất thải bổ sung ở ống nhỏ

Thận cũng sản xuất hooc-môn (hormone) nhất định mà có chức năng quan trọng trong cơ thể, bao gồm như sau:

- Dạng kích hoạt của vitamin D (calcitriol or 1,25 dihydroxy-vitamin D), mà điều chỉnh sự hấp thụ chất calcium và phốt pho (phosphorus) từ thực phẩm, thúc đẩy sự hình thành của xương mạnh mẽ

- Erythropoietin (EPO), chất kích thích tuỷ xương để sản xuất tế bào máu.

- Renin, chất điều chỉnh lượng máu và huyết áp

Sự khác biệt giữa suy thận và bệnh thận

Suy Thận (Kidney failure)

- Suy thận xảy ra khi một phần hoặc toàn phần thận mất khả năng để thực hiện các chức năng bình thường.

- Điều này nguy hiểm bởi vì nước, chất phế thải, và các chất độc hại tích tụ lại mà bình thường các thứ này được loại bỏ khỏi cơ thể bằng thận.

- Nó cũng gây ra những vấn đề khác như thiếu máu, cao huyết áp, sự nhiễm axit (thừa acid trong dung dịch cơ thể), rối loạn cholesterol và axit béo, và bệnh xương trong cơ thể do thân suy giảm sự sản xuất hooc môn.

Bệnh suy thận mãn tính (Chronic Kidney Disease)

Bệnh suy thận mãn tính là khi thận vị suy thoái từ từ và thường vĩnh viễn mất chức năng thận qua thời gian. Điều này xảy ra dần dần theo thời gian, thông thường từ nhiều tháng đến nhiều năm. Bệnh suy thận mãn tính được chia thành năm giai đoạn theo mức độ nghiêm trọng ngày càng tăng.

Giai Đoạn

Mô Tả

GFR mL/min/1.73m2

1

Thận bị hư hại rất nhẹ (slight) với sự gạn lọc tăng lên hay bình thường

Hơn 90

2

Chức năng Thận giảm nhẹ

60-89

3

Chức năng Thận giảm ở mức độ trung bình

30-59

4

Chức năng Thận giảm ở mức độ nghiêm trọng

15-29

5

Suy thận cần chạy thận hoặc cấy ghép

Thấp hơn 15


Ghi Chú: GFR là tỷ lệ lọc cầu thận, một phép đo chức năng của thận.

Giai đoạn thứ 5 của suy thận mãn tính cũng được gọi là giai đoạn cuối bệnh thận, trong đó toàn bộ hay hầu nhưtoàn bộ thận hay mất chức năng thận và bệnh nhân cần chạy thận hoặc cấy ghép thận để sinh tôn. Thuật ngữ tiếng Anh "renal" (thận) dùng để chỉ "kidney" (thận). Do đó, một tên khác cho suy thận = "kidney failture" là "renal failure". Loại bệnh suy thận nhẹ thường được gọi là "renal insufficiency".

Không giống như bệnh suy thận mãn tính (chronic kidney disease/ chronic kidney failure), suy thận cấp tính (acute kidney failure) phát triển nhanh chóng, trong vài ngày hoặc vài tuần.

- Suy thận cấp tính thường phát triển để đáp ứng cho một sự rối loạn mà trực tiếp ảnh hưởng đến thận, ảnh hưởng đến sự cung cấp máu cho thận, hoặc sự bài tiết nước tiểu .

- Suy thận cấp tính thường không làm hỏng thận vĩnh viễn. Với sự điều trị thích hợp cho tình trạng của thận, thận thường có thể phục hồi và phục hồi hoàn toàn .

- Tuy nhiên, trong một số trường hợp suy thận cấp tính có thể tiến triển đến bệnh suy thận mãn tính.

Nguyên nhân dẫn đến suy thận mãn tính

Mặc dù bệnh suy thận mãn tính đôi khi là kết quả từ các căn bịnh chính của thận, những nguyên nhân chính là bệnh tiểu đường và cao huyết áp.

- Bệnh Tiểu Đường (diabetes mellitus) loại 1 và loại 2 gây ra một tình trạng gọi là "thận tiểu đường" (diabetic nephropathy), là nguyên nhân hàng đầu của bệnh thận ở Hoa Kỳ.

- Huyết áp cao (hypertension), nếu không được kiểm soát, có thể làm hư thận theo thời gian.

- Viêm thận-tiểu-cầu (Glomerulonephritis) là viêm và thiệt hại về lọc của thận và có thể gây suy thận. Những tình trạng xuất hiện sau khi bị viêm (Postinfectious conditions)và bịnh lở ngoài da (lupus) là một trong các nguyên nhân gây nhiều viêm thận-tiểu-cầu (glomerulonephritis).

- Bệnh thận đau nang (Polycystic kidney disease) là một ví dụ của một nguyên nhân di truyền của bệnh thận mãn tính trong đó cả hai quả thận có nhiều nang (multiple cysts).

- Việc sử dụng thuốc giảm đau (analgesics) như acetaminophen (Tylenol) và ibuprofen (Motrin, Advil) thường xuyên qua thời gian dài thời gian có thể làm giảm đau thận, một nguyên nhân của bệnh thận. Một số thuốc khác nhất định cũng có thể làm hư thận.

- Tắc nghẽn và cứng của động mạch (atherosclerosi = xơ vữa động mạch) dẫn đến thận gây ra một tình trạng gọi là thận thiếu máu cục bộ (ischemic nephropathy), là một nguyên nhân khác gây ra sự hủy hoại thận tiến triển (diễn tiến thận hư)

- Sự tắc nghẽn các dòng nước tiểu do sạn thận, một tiền liệt tuyến dược mở rộng, những chứng cơ quan bị thu hẹp (strictures = narrowings), hoặc ung thư cũng có thể gây bệnh thận.

- Các nguyên nhân khác của bệnh thận mãn tính bao gồm nhiễm HIV, bệnh tế bào liềm (sickle cell disease), lạm dụng ma túy (heroin abuse), thoái hóa Amyloid protein (amyloidosis), sỏi/sạn thận, nhiễm trùng thận mãn tính, và những loại ung thư nhất định.

Nếu bạn có bất kỳ các tình trạng sau đây, bạn đang ở nguy cơ cao hơn-bình thường về sự phát triển bệnh thận mãn tính. Các chức năng thận của bạn cần nên theo dõi thường xuyên.

- Bệnh Tiểu Đường loại 1 hay loại 2 (Diabetes mellitus type 1 or 2 )

- Bệnh cao huyết áp (High blood pressure / hypertension)

- Bệnh cao mỡ trong máu (High cholesterol)

- Bệnh tim (heart disease)

- Bệnh gan (Liver disease)

- Bệnh thận (kidney disease)

- Bệnh thoái hóa Amyloid protein (Amyloidosis)

- Bệnh tế bào hình liềm (Sickle cell disease)

- Bệnh lở da do tình trạng viêm mạn tính gây ra bởi một bệnh tự miễn dịch (Systemic Lupus erythematosus)

- Các bệnh mạch máu như viêm động mạch [arteritis), viêm mạch (vasculitis), hoặc sự loạn phát triển sơ-cơ (fibromuscular dysplasia)

- Sự trào ngược nước tiểu từ bàng quang vào niêu quản (Vesicoureteral reflux) (một vấn đề đường tiết niệu mà trong đó nước tiểu đi sai đường)

- Những Vấn đề về các khớp xương hay bắp thịt mà thường xuyên yêu cầu phải sử dụng thuốc chống viêm

- Nếu gia đình bạn có bệnh sử về bệnh thận.

(Theo Nhipcauykhoa.net)

 

Bán trang web 1 triệu vnđ 0972357147